Hệ tiết niệu chịu trách nhiệm sản xuất, trữ và thải nước tiểu ra khỏi cơ thể, mà trong đó thận là cơ quan đóng vai trò quan trọng nhất. Thông qua việc bài tiết nước tiểu, cơ thể thải ra ngoài các chất độc và giữ thăng bằng cho môi trường bên trong cơ thể, tham gia vào việc tạo máu và điều hòa huyết áp động mạch. Vì vậy, nếu thận hoạt động không tốt hoặc có những biểu hiện bất thường sẽ ảnh hưởng lớn đến sức khỏe của chúng ta, do đó mọi tổn thương về thận đều cần được phát hiện và điều trị sớm.

Các triệu chứng cảnh báo thận có vấn đề

Ton thuong ve than gay anh huong lon den suc khoe va cuoc song

Một số triệu chứng chỉ ra thận có vấn đề bao gồm:

  • Tăng huyết áp
  • Có máu lẫn trong nước tiểu
  • Đi tiểu nhiều, thường xuyên cảm thấy muốn đi tiểu.
  • Gặp nhiều khó khăn khi đi tiểu
  • Đi tiểu đau
  • Phù mềm ấn lõm
  • Lượng nước tiểu giảm hoặc lượng nước tiểu tăng bất thường kéo dài (liên quan đến bệnh suy thận).
  • Triệu chứng của sự tăng các chất độc trong máu (liên quan đến bệnh suy thận): buồn nôn, nôn ói, chán ăn, đau cơ, đau xương khớp, co rút cơ hoặc liệt, loạn nhịp tim, khó ngủ, nổi mẫn da…​

Nếu chỉ có một triệu chứng duy nhất, đó có thể không phải là vấn đề nghiêm trọng. Tuy nhiên khi xảy ra đồng thời những triệu chứng này thì khả năng thận gặp vấn đề là rất cao. Việc thực hiện các xét nghiệm chức năng thận sẽ giúp bạn tìm ra nguyên nhân và có hướng điều trị thích hợp.

Xét nghiệm chức năng thận bao gồm những gì?

Để kiểm tra chức năng thận bác sĩ thường sẽ yêu cầu người bệnh thực hiện một số các xét nghiệm sau đây:

Xét nghiệm nước tiểu

Là xét nghiệm được thực hiện trên mẫu nước tiểu của bệnh nhân, nhằm tìm kiếm sự hiện diện của protein và máu trong nước tiểu. Có rất nhiều nguyên nhân khiến protein có mặt trong nước tiểu và không phải tất cả trong số đó đều liên quan đến bệnh thận. Ví dụ nhiễm trùng có thể làm tăng nồng độ protein trong nước tiểu nhưng hoạt động thể chất với cường độ nặng cũng có thể là nguyên nhân của tình trạng này. Bởi vậy người bệnh có thể sẽ phải lặp lại xét nghiệm nước tiểu sau một vài tuần để có được kết quả chính xác nhất.

Ngoài xét nghiệm nước tiểu theo tiêu chuẩn thông thường, bác sĩ cũng có thể yêu cầu người bệnh lấy mẫu nước tiểu trong 24 giờ. Xét nghiệm này được sử dụng để đánh giá mức độ bài tiết nhanh chóng chất thải creatinine của cơ thể.

Xét nghiệm Creatinine

Thận duy trì nồng độ creatinine trong máu ở mức bình thường. Creatinine là một chất đáng tin cậy trong việc đánh giá chức năng thận. Vì khi thận bị suy sẽ làm tăng nồng độ creatinine trong máu. Do đó nồng độ  creatinine tăng cao một cách bất thường báo hiệu rối loạn chức năng thận hay thận bị suy, ngay cả trước khi người bệnh có triệu chứng suy thận.

Điện giải đồ

Rối loạn chức năng thận gây ra mất cân bằng các chất điện giải trong cơ thể. Do đó dựa vào phương pháp điện giải đồ để đo lường hàm lượng các chất điện giải như: Na, Ka, Ca,… cũng được sử dụng trong xét nghiệm đánh giá chức năng thận.

  • Sodium (Natri): Natri máu bình thường 135-145 mmol/L. Người suy thận, natri máu giảm, có thể do nguyên nhân mất natri qua da, qua đường tiêu hóa, qua thận nhưng cũng có thể do thừa nước. Các triệu chứng lâm sàng của giảm natri máu chủ yếu ở hệ thần kinh đi từ nhẹ đến nặng: nhức đầu, buồn nôn, lừ đừ, hôn mê, co giật.
  • Potasium (kali): Kali máu bình thường 3,5- 4,5 mmol/L. Tăng kali máu ở bệnh nhân suy thân do thận giảm thải kali. Các triệu chứng của tình trạng tăng kali từ nhẹ đến nặng: mệt mỏi, dị cảm, mất phản xạ, liệt cơ, rối loạn nhịp tim.
  • Canxi máu: canxi máu bình thường 2.2-2.6 mmol/L. Suy thận có biểu hiện giảm canxi máu kèm theo tăng phosphat. Triệu chứng hạ canxi máu chủ yếu là dấu kích thích thần kinh cơ gồm tăng phản xạ gân xương, co cứng cơ, co giật, rối loạn nhịp tim.

Ý nghĩa của các kết quả xét nghiệm chức năng thận

Xét nghiệm Creatinine

  • Ở những người bình thường, nồng độ chất creatinin trong huyết tương chiếm khoảng 55 – 110 mmol/l; con số này ở nước tiểu là 8 – 12 mmol/24h tức là khoảng 8000 – 12000 mmol/l.
  • Nếu kết quả xét nghiệm cho thấy sự tăng creatinin, điều này nói lên sự thiểu năng thận, giảm độ lọc của cầu thận và giảm bài tiết của ống thận. Trong thực tế, các bác sĩ thường tính toán độ thanh lọc creatinin và độ thanh lọc urê của thận để đánh giá chức năng lọc của thận, từ đó xác định chức năng thận có đang tốt hay không.
  • Độ thanh lọc creatinin của thận sẽ giảm trong trường hợp thiểu năng thận, Lúc này mức độ giảm của độ thanh lọc creatinin tỷ lệ thuận với mức độ thiểu năng thận, nó phản ánh tổn thương xuất hiện ở cầu thận. Bên cạnh đó cũng có một số những trường hợp ảnh hưởng đến độ thanh lọc creatinin có thể kể đến là viêm cầu thận cấp và mạn tính; viêm bể thận – thận mạn; viêm bể thận – thận tái phát; nhiễm urê huyết; thiểu năng tim; cao huyết áp ác tính; máu qua thận giảm, giảm áp lực lọc cầu thận.

Độ thanh lọc creatinin phản ánh tương đối đúng chức năng lọc cầu thận. Tuy nhiên nó cũng có một số nhược điểm là trong các điều kiện bệnh lý, hay quá trình tiến triển của suy thận, khi nồng độ creatinin máu cao thì có sự bài tiết một phần ở ống niệu, hoặc khi thiểu niệu.

Xét nghiệm creatinin được đánh giá là đáng tin cậy hơn xét nghiệm urê vì nó ít chịu ảnh hưởng bởi chế độ ăn, mà kết quả của xét nghiệm này chỉ phụ thuộc vào khối lượng của cơ thể.

Ure máu và nước tiểu

Urê là chất được tổng hợp ở gan từ CO2, NH3 và ATP; trong đó CO2 là sản phẩm thoái hóa của protid. Trong lâm sàng, xét nghiệm urê máu và nước tiểu được thực hiện khá nhiều để đánh giá về chức năng lọc cầu thận và tái hấp thu ở ống thận. Tuy nhiên, xét nghiệm này có một nhược điểm khá lớn là nó bị ảnh hưởng bởi chế độ ăn. Ví dụ như khi chúng ta ăn những món giàu đạm đồng nghĩa với việc làm tăng thoái hóa các aminoacid từ đó dẫn đến kết quả xét nghiệm sẽ sai lệch.

  • Đối với những người bình thường, nồng độ urê trong máu rơi vào khoảng 3,6 đến 6,6 mmol/l và nồng độ urê trong nước tiểu khoảng 250 đến 500 mmol/24h.
  • Ure máu tăng cao trong một số trường hợp sau: Suy thận, viêm cầu thận mạn, u tiền liệt tuyến.
  • Urê máu 1,7 – 3,3 mmol/l (10 – 20 mg/dl) hầu như luôn chỉ ra chức năng thận bình thường.
  • Urê máu 8,3 – 24,9 mmol/l (50 – 150 mg/dl) chỉ ra tình trạng suy chức năng thận nghiêm trọng.

Các chất điện giải (Na+, K+, Cl-, Ca TP hoặc Ca++)

  • Đối với cơ thể bình thường, chỉ số của các ion này như sau:  Na+ từ 135 đến 145 mmol/l; ion K+từ 3,5 đến 5,5 mmol/l; ion Cl-từ 95 đến 105 mmol/l; Ca TP từ 2,0 đến 2,5 mmol/lvà Ca++ từ 1,0 đến 1,3  mmol/l.
  • Nếu ion Na+ tăng rất có thể bệnh nhân bị phù thận, ưu năng vỏ thượng thận. Nồng độ Na+ máu tăng có thể gây nên một số thay đổi chức năng thận. Trong khi đó, nếu ion này giảm thì bệnh nhân có thể đang bị mất Na+ qua thận. Đây là triệu chứng thường gặp trong bệnh tiểu đường, những bệnh nhân có glucose máu cao, nhiễm cetonic máu, đi tiểu nhiều làm mất Na+, K+hay những người dùng thuốc lợi niệu quá nhiều, làm ức chế tái hấp thu Na+ ở tế bào ống thận.
  • Ion K+ cao sẽ cảnh báo bệnh nhân nguy cơ thiểu năng thận, vô niệu do các nguyên nhân hoặc viêm thận, thiểu năng vỏ thượng thận (bệnh Addison), làm giảm đào thải K+ qua thận. Trường hợp mất kali theo nước tiểu khi bệnh nhân nhiễm cetonic trong tiểu đường. Trường hợp này, lúc đầu ion K+ tăng nguyên nhân do nhiễm toan và suy thận, sau khi điều trị bằng insulin hết nhiễm toan và bài tiết của ống thận đã tốt thì K+ lại giảm.Bệnh nhân dùng thuốc lợi niệu quá nhiều làm tăng thải trừ kali theo nước tiểu.
  • Trường hợp bệnh nhân giảm canxi có thể gặp trong hội chứng thận hư (chủ yếu giảm canxi không ion hóa gắn với protid) vì mất qua nước tiểu cùng với protein.

 

Các thông số trong xét nghiệm tổng phân tích tế bào máu liên quan đến bệnh thận

Albumin huyết thanh: Ở người bình thường, albumin huyết thanh khoảng 35 đến 50 g/L, chiếm 50 – 60% protein toàn phần. Albumin giảm mạnh trong trường hợp bệnh nhân mắc bệnh lý cầu thận cấp.

Protein toàn phần huyết tương: Giá trị bình thường của chỉ số này là 60 đến 80 g/L. Protein toàn phần huyết tương phản ánh chức năng lọc của cầu thận protein toàn phần sẽ giảm nhiều hơn trong các bệnh thận khi màng lọc cầu thận bị tổn thương.

Phong Lab cua trung tam xet nghiem mau TassCare

Để có được kết quả xét nghiệm chính xác, đòi hỏi cơ sở y tế phải có đủ trang thiết bị tiên tiến theo tiêu chuẩn của bộ Y tế
Phòng Lab của TassCare là nơi đội ngũ nhân viên có trình độ cao thực hiện các loại xét nghiệm

Phương hướng điều trị

  • Nếu các xét nghiệm cho thấy có bệnh về thận ở giai đoạn sớm, người bệnh sẽ được tập trung điều trị nguyên nhân gây bệnh. Nếu thận tổn thương do tăng huyết áp, bác sĩ có thể sẽ kê đơn thuốc kiểm soát huyết áp đồng thời hướng dẫn người bệnh điều chỉnh lại chế độ ăn uống, lối sống.
  • Nếu người bệnh bị tiểu đường, bác sĩ sẽ có các biện pháp điều trị tiểu đường để giảm thiểu thiệt hại cho thận.
  • Nếu có những nguyên nhân khác dẫn tới kết quả xét nghiệm chức năng thận bất thường, chẳng hạn như sỏi thận hay sử dụng quá nhiều thuốc giảm đau, bác sĩ sẽ đề xuất một số biện pháp để điều trị.

Những người có kết quả xét nghiệm chức năng thận bất thường có thể sẽ phải thực hiện xét nghiệm thường xuyên trong các tháng tiếp theo, để theo dõi tình trạng của thận.

Categories: ...